Di sản văn hóa

Hồng Lĩnh là vùng đất cổ có lịch sử lâu đời, nơi đây mỗi ngọn núi, địa danh đều lưu giữ những dấu tích lịch sử, những truyền thuyết huyền thoại và thấm đẫm nhiều vỉa tầng văn hóa. Hệ thống di sản vật thể ở Hồng Lĩnh tiêu biểu nhất vẫn là những ngôi chùa cổ kính có bề dày lịch sử hàng trăm năm đã làm nên sắc thái riêng của vùng đất này trong tiến trình phát triển của Hà Tĩnh và dân tộc Việt Nam.

Chùa Đại Hùng là một trong 4 ngôi cổ tự của vùng đất Hồng Lĩnh gồm chùa Thiên Tượng, chùa Long Đàm, chùa Đại Hùng và chùa Cực Lạc (nay không còn). Chùa Đại Hùng tọa lạc trên mái núi phía tây nam của dãy Hồng Lĩnh thuộc địa phận phường Đậu Liêu, chùa nằm ở độ cao 100 mét so với mặt nước biển gồm các hạng mục công trình: miếu chín cô, cổng tam quan, tượng quan âm , nhà tổ, nhà Thánh mẫu, hạ điện và tam bảo. Tương truyền, chùa được xây dựng vào đời Trần, thời kỳ Phật giáo phát triển thịnh trị nhưng đến nay do sự biến động của lịch sử xã hội, ngôi chùa đã di chuyển vị trí nên không còn nguyên vẹn như xưa và các công trình đã trở thành phế tích.

Điều đặc biệt của chùa Đại Hùng không chỉ là nơi thờ Phật, chốn tu hành của các tín đồ Phật tử mà còn là nơi thờ Thủy tổ Kinh Dương Vương và các vua Hùng. Từ rất lâu đời, trong tâm thức người dân chùa Đại Hùng đã là nơi hội tụ hướng về nguồn cội quốc tổ Hùng Vương vào mỗi dịp giỗ tổ vào ngày 10 tháng 3 hàng năm. Theo dòng thời gian có thể xem đây là nơi đã từng gắn với lịch sử dân tộc Việt từ thuở hồng hoang. Tương truyền vào buổi đầu dựng nước, Kinh Dương vương đã đến vùng đất thiêng này tìm đất định đô, bởi địa thế nơi đây có núi giăng nên lũy, khe chảy thành hào, non đủ cao, sông đủ sâu, đồng điền đủ rộng, xa xa có biển rộng lớn, thuận lợi cho việc định đô của một vương triều khi mới khai sinh. Với tầm nhìn bao quát càn khôn đó, Kinh Dương vương đã chọn Ngàn Hống dựng đô, mặc dù về sau các Vua Hùng đã thiên đô về núi Nghĩa Lĩnh (Phú Thọ) nhưng dấu tích về kinh đô Ngàn Hống vẫn được sử sách truyền tụng và còn lưu dấu mãi trong tâm thức dân gian.

Thiết nghĩ ban đầu ngôi chùa được dựng để thờ Phật, theo thời gian với sự tích Kinh Dương Vương định đô trên Ngàn Hống xưa, nên Phật giáo đã hòa nhập với tín ngưỡng bản địa để cùng trường tồn đến ngày nay. Do đó, xem xét vấn đề thờ phụng Kinh Dương vương và các vua Hùng ở chùa Đại Hùng theo quan điểm lịch sử và dưới góc độ tín ngưỡng dân gian cho thấy giáo lý nhà Phật có nhiều điểm tương đồng với văn hóa bản địa. Truyền thuyết định đô của Kinh Dương vương đã phản ánh một hiện thực xa xưa mà đến nay các nguồn sử liệu và kết quả nghiên cứu đã ít nhiều phác thảo nên diện mạo bức tranh buổi đầu của dân tộc Việt. Ở đó vùng đất Hồng Lĩnh với những dãy núi uy nghiêm sừng sững lưu giữ nhiều truyền thuyết bất tử xuyên suốt không gian và thời gian, để đến hôm nay thế hệ hậu sinh vẫn tự hào và tiếp tục tìm hiểu nghiên cứu.

Hiện nay, tại chùa còn lưu giữ một hiện vật quý đó là quả chuông đồng có niên đại trên 200 năm, kích thước cao 1 mét nặng trên 50kg khắc tên “Đại Hùng tự chung”. Một đoạn của bài Minh khắc trên chuông có nội dung như sau: “Hoàng triều Cảnh Thịnh bát niên tuệ tại Canh Thân thất nguyệt nhị thập, thất nhật nhâm Thân, thần hiệu khai bút” (Nghĩa là bài Minh được viết năm Canh Thân niên hiệu Cảnh Thịnh thứ 8 năm 1800). Mặc dù niên đại hiện vật không cùng niên đại xây dựng chùa nhưng kỹ thuật đúc đồng tinh xảo phong cách trang trí độc đáo, quai treo hình rồng rất gần gũi với chuông chùa Tịnh Lâm trên núi Nghĩa Sơn thuộc xã Thạch Lâm, huyện Thạch Hà cho ta một sự liên hệ đến  sản phẩm trên là của làng nghề đúc đồng Nho Lâm. Những năm gần đây vào dịp lễ giỗ Quốc tổ Hùng vương mồng 10 tháng 3, ngoài việc cầu cho quốc thái dân an mưa thuận gió hòa, thì buổi chính lễ còn có nghi thức dân gian ca ngợi tri ân công lao dựng nước của vị thủy tổ Kinh Dương vương và các vua Hùng đối với dân tộc Việt buổi ban đầu.

Có thể nói địa danh Hồng Lĩnh – Ngàn Hống là vùng đất cổ được chọn là kinh đô của dân tộc Việt buổi bình minh, ở đó vẫn luôn ẩn chứa nhiều sự tích huyền thoại mang tính sử thi nhưng có vai trò đặc biệt quan trọng trong giai đoạn mở đầu của lịch sử dân tộc và mở ra giai đoạn phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam./.

Võ Đình Thi