Văn hóa

Mai Thế Quý, quê quán xã Phù Lưu, huyện Thiên Lộc, nay là xã Hồng Lộc, huyện Lộc Hà. Ông là con của Mai Thế Chuẩn và là cháu của hương cống Mai Thế Định.

Mai Thế Quý sinh năm Nhâm Ngọ (1822). Từ nhỏ, ông nổi tiếng là người thông minh, ham học. Năm thứ 6, đời vua Thiệu Trị khoa Bính Ngọ (1846) thi hương đậu giải nguyên, nhưng gặp trở ngại nên ông không được thi tiếp. Đến năm thứ 5 đời vua Tự Đức, khoa thi năm Nhâm Tý (1852) ông đậu cử nhân. Năm 32 tuổi, ông đậu Tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa thi Quý Sửu đời vua Tự Đức năm thứ 6 (1853). Sau khi thi đậu, ông được bổ chức Hàn lâm viện, rồi Hộ lý tuần phủ tỉnh Quảng Yên. Năm Tự Đức thứ 21 (1868), sung Hải Phòng Hiệp lý Hải Dương, kiêm quản nhu năng quan. Sau sung tán tương quân thứ Lạng Bình, tán lý quân thứ Tuyên Quang. Năm Tự Đức thứ 29 (1876) vua Tự Đức giao cho chức Trung phụng Đại phu, Binh bộ Tham tri kiêm các chức như Đô sát viện hựu phó, Đô ngự sử Tuần vũ Tuyên Quang, đề đốc quân vụ điều hành việc quân, quản lý lương thực và biên phòng ở Thái Nguyên.

Trong suốt 24 năm làm quan dưới triều Nguyễn thì có 13 năm ông phải trấn trị vùng biên giới phía Bắc (Lạng Sơn, Quảng Yên, Tuyên Quang) với chức Tuần vũ. Suốt 10 năm đi đánh giặc thổ phỉ, mạnh nhất là bọn giặc khách cờ vàng do Hoàng Sùng Anh và lang đạo Nông Hùng Thạch cầm đầu. Ông đã dẹp yên quân thổ phỉ, đưa lại yên bình cho người dân vùng biên giới. Cho đến nay, trong dân gian vẫn truyền nhau câu:

Mai tồn Tuyên tại, Mai bại Tuyên vong

Nghĩa là:

Còn Mai Thế Quý, thì Tuyên Quang còn tồn tại

Mai Thế Quý bại, Tuyên Quang cũng mất.

Trong cuộc đời làm quan, Mai Thế Quý có 9 lần được nhà vua ban thưởng và 11 lần bị khiển trách. Nhưng không vì thế mà ông chán cảnh quan trường, ngược lại với trọng trách được giao, ông đã làm tròn hết sức mình để bảo vệ và ổn định đời sống cho người dân vùng biên giới phía bắc. Ngày 30 tháng 2 năm Tự Đức thứ 30 (1877), khi đang đóng quân tại Yên Hà để trù tính việc phòng thủ 6 tỉnh biên giới, ông lâm bệnh nặng và mất ngày 23 tháng 6 năm Đinh Sửu (1877) tại lỵ sở Tuyên Quang.

Với đức độ, tài năng của ông, triều đình đã ban chỉ rước thi hài của ông về quê. Các quan trong triều thương tiếc ông, khi rước thi hài của ông qua Hà Nội qua thân ở đây đã làm lễ “Trung đồ” và có câu đối điếu:

Nhất đại văn chương, thùy tán thưởng

Thập niên binh cách, tối gian tân

Nghĩa là:

(Một đời văn chương không ai không khen ngợi

Mười năm binh lửa, riêng ông chịu đắng cay)

          Thi hài của ông được rước về mai táng tại Rú Đất – quê hương của ông. Thương tiếc tài năng, đức độ của ông, triều đình ban sắc chỉ lập đền thờ, giao cho làng Phù Lưu, huyện Thiên Lộc (nay là xã Hồng Lộc, huyện Lộc Hà) hàng năm tế lễ đúng theo nghi lễ chung của triều đình.

Hiện nay, tại nhà thờ đại tôn ở xã Hồng Lộc, huyện Can lộc còn bảo lưu được một văn bía bằng đá ghi lại cuộc đời, sự nghiệp của Tiến sỹ Mai Thế Quý. Văn bia này do quan thân hai tỉnh Nghệ An – Hà Tĩnh đống bái thuận và được dựng dưới thời vua Tự Đức năm thứ 32 (1879).

Mai Thế Quý có người con trai là Mai Thế Quán, vốn học giỏi nhưng không ra làm quan. Ông có nhiều bạn hữu và rất có uy tín trong vùng. Khi vua Hàm Nghi ra sơn phòng ban chiếu Cần Vương kêu gọi nhân dân chống Pháp, Mai Thế Quán đã kêu gọi nhân dân trong vùng đứng lên kháng Pháp. Lực lượng tham gia khá đông, lên đến 500 người. Cuối năm 1885, trong một trận giao tranh với Pháp, ông bị tử trận, sau đó nghĩa quân của ông nhập về với phong trào của Nguyễn Duy Tranh và Nguyễn Duy Trạch (căn cứ ở vùng Gia Hanh, nay là xã Nhân Lộc, huyện Can Lộc).

Mai Thế Quý là nhân vật lịch sử sống vào giai đoạn nửa cuối thế kỉ XIX. Ông có những đóng góp lớn trong việc bảo vệ, xây dựng tueyens phòng thủ vùng biên giới thuộc 6 tỉnh phía Bắc. Ông cũng là một người nổi tiếng trong giới quan trường với phẩm chất, năng lực, tài thao lược, lòng  quả cảm, can trường của một vị quan sinh ra và trưởng thành trên mảnh đất xứ Nghệ. Sự nghiệp của ông đã được ghi danh vào trang sử vàng của dân tộc Việt Nam.

Minh Đức