Văn hóa

Là một đất nước nông nghiệp, từ bao đời nay, con trâu luôn gắn liền với đời sống cư dân làng xã Việt Nam. Không những là loài vật thân thiết, gắn bó với người nông dân, con trâu còn là loài vật được lựa chọn để làm vật cúng tế khá sớm trong các lễ hội ở nước ta.

Không rõ con trâu được thuần dưỡng và trở thành vật nuôi của nhà nông từ bao giờ nhưng ngay từ những năm đầu thế kỷ 12, trâu đã đóng vai trò rất quan trọng trong lao động sản xuất, được nhà nước có nhiều chính sách bảo vệ nghiêm ngặt. Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết, vào tháng 2 năm Đinh Dậu (1117), nghe lời tâu của Hoàng Thái hậu: “Gần đây, ở kinh thành hương ấp có nhiều người trốn làm nghề trộm trâu, trăm họ cùng quẫn, mấy nhà cày chung một con trâu. Trước đây ta từng nói đến việc ấy, nhà nước đã có lệnh cấm. Nay giết trâu lại nhiều hơn trước”, vua Lý Nhân Tông đã ban chiếu: Kẻ nào mổ trộm trâu thì xử 80 trượng đồ làm khao giáp, vợ xử 80 trượng đồ làm tang thất phu và đền trâu. Nhà láng giềng không tố cáo thì xử 80 trượng. Đến năm Quý Hợi (1143), triều đình tiếp tục ban lệnh: Từ nay về sau, trong nước cứ 3 nhà là một bảo, không được tự tiện mổ trâu bò; nếu có việc cúng tế phải tâu xin được chỉ rồi mới cho mổ. Làm trái thì trị tội nặng. Nhà láng giềng không cáo giác cũng xử cùng tội.

Cũng vì quý trọng con trâu nên người xưa ít khi dùng trâu sống để làm đồ tế lễ mà thay vào đó là làm bằng những con trâu đất. Dưới thời Lê trung hưng, cứ đến tháng 11 hàng năm, cơ quan Tư Thiên giám tâu ngày tháng nào là tiết lập xuân và kê cả kiểu mẫu làm xuân ngưu (trâu xuân), giao cho Công bộ sai Thường ban cục làm. Con trâu được nặn bằng đất, được đặt trên đàn lễ, các quan dân sở tại dùng roi dâu đánh vào mình trâu đất, sau chuyển đến trước sân của nhà vua để chính thức làm lễ Tiến Xuân ngưu. Sở dĩ con trâu được chọn để tiến lễ vì đây là tháng quý Đông, tháng Sửu. Thời điểm tổ chức diễn ra trước tiết lập Xuân một ngày, mục đích chính của nó là tống khứ cái lạnh của mùa Đông để chuẩn bị đón tiết trời ấm áp của mùa Xuân.

Thế kỷ 17, 18, nhiều người nước ngoài, đặc biệt là các nhà buôn, giáo sĩ phương Tây khi đến Việt Nam đã khá bất ngờ và ngạc nhiên trước việc tế lễ bằng trâu đất của nước ta. Giáo sĩ người Tây Ban Nha Francisco Gil de Federich có mặt tại Thăng Long trong 10 năm (1737 – 1747) đã có những ghi chép thú vị về lễ Tiến Xuân Ngưu như sau: Khoảng ngày lập xuân, trước đó một ngày, binh sĩ Đội lí hình đến Nhà Môn Ngưu (cơ quan nuôi trâu hay mổ trầu) và lấy đi 1.300 con trâu (đất) nhỏ ở đó. Ở cổng Hàng Chiếu một căn nhà trống bốn bề được dựng lên. Một con trâu đất to lớn được đặt trong căn nhà, và trên lưng mỗi con trâu đặt một bức tượng Câu Mang - trâu nhỏ thì đặt tượng nhỏ, trâu lớn thì đặt tượng lớn - như thể để bảo vệ nó. Sau khi nhận 1.300 con trâu, họ đưa chúng đến nhà tù phía đông và để chúng ở sân nhà tù. Con trâu đất vẫn đặt tại căn nhà dựng ở Ngõ Hàng Chiếu (đường Hàng Chiếu) trong ngày hôm đó đến tận nửa đêm, rồi sau đó nó được đưa qua phố phường tiến đến sân trong, hay ngôi đền Vua Bạch Mã, người ta đặt nó ở bên ngoài; và chỉ có Thần Câu Mang được đặt lên giữa sân đền nơi Quan Phủ Doãn tế lễ Thần Câu Mang. Sau lễ cúng, Nhà Môn (người phục vụ ở cơ quan nuôi trâu) dùng một tấm chiếu bọc Thần Câu Mang đem ra ngoài chôn cất; những người lính trong nhà tù đưa con trâu vào nhà tù, lấy phần đầu, một cái chân và một phần đuôi rồi đem ra dâng Vua lúc đó đang chờ ngoài sân cùng các quan triểu đình sắp hàng hai bên... Những người lính chọn 55 con và sắp chúng đều nhau trên những bàn cúng tế, ngôn ngữ đời thường gọi là mâm; có 11 bàn, mỗi bàn là 5 con. Họ phủ chúng bằng lụa màu vàng nghệ và để chúng lại đó. Sau này vua sẽ gửi chúng đến tất cả các đền thờ cùng với những con còn lại... Sau đó tất cả Nhà Môn Sáu Hiệu (sáu đội quân) tiến đến tiếp nhận những con trâu cho mọi viên quan của Hiệu này để phần phối. Những con trâu được đặt lên các án thờ, dâng cho một tượng thần, hay một vị thần, hoặc cho tổ tiên. Họ làm những con trâu bằng đất sét cao khoảng 5 hay 6 ngón tay, rồi sơn phết chúng với đầu, mình, và đuôi có màu sắc khác nhau theo quy tắc, nếu ngày đầu mùa Xuân tương ứng với lửa hay hỏa, họ sẽ sơn đầu con trâu theo màu sắc phù hợp, họ cũng làm tiếp hình tượng một chú bé bảo vệ bằng đất sét cạnh con trâu mà họ gọi là Thần Câu Mang, và hình người này cũng được phủ bằng một màu sơn khác phù hợp với thời gian khác trong năm.

Dưới thời nhà Nguyễn, với nhiều chính sách trọng nông được thực thi thì các lễ tục được tổ chức ngày càng quy cũ, bài bản và có sự chuẩn bị chu đáo. Năm Minh Mệnh thứ 10 (1830), trước khi làm lễ Nghênh Xuân, quan Bộ Lễ tâu: "Kính xét sách Lễ ký, thiên Nguyệt lệnh, thần được biết theo lễ nghi ghi chép, tháng cụối mùa Đông, vua sai quan hữu ty đem con trâu đất ra lễ để đuổi khí lạnh. Đến năm ngày trước tiết Lập Xuân, đặt con trâu đất, tượng người cày ruộng và cái cày ở phía ngoài cửa Đông môn. Rạng sáng ngày hôm ấy, quan lại cầm cái roi ngũ sắc ra đánh con trâu ba roi, để tỏ ý khuyên bảo cày ruộng. Thần lại xét điển lễ nhà Thanh, được biết trong ngày Lập Xuân, người ta dâng lên vua tượng Mang thần, con trâu đất và tượng núi mùa Xuân đều được bày trên án, để làm lễ đón Xuân cùng khí hòa ấm, cũng là một cách giúp dập nhà vua. Người ta đánh con trâu để khuyên cày ruộng và ngụ ý trọng nông. Thần được biết Hoàng thượng rất chú ý đến việc làm ruộng của nhân dân, hễ thấy việc gì có ích lợi đều cho phỏng theo phép xưa mà thi hành, nên kính xin Hoàng thượng sai quan hữu ty chế ra ba tượng Mang thần, ba tượng trâu đất, hai tượng núi Xuân và hai bảo tòa. Một ngày trước tiết Lập Xuân, quan phủ Thừa Thiên đem những tượng đến cõi phía Đông ngoài thành, đặt đàn hành lễ gọi là lễ Nghênh Xuân. Tế xong, rước mang thần, thổ ngưu xuân sơn, bảo tòa, mỗi thứ hai tượng, đem đặt tại chính đường Bộ Lễ... Quan Thái giám tiếp nhận và dâng lên Hoàng thượng, được gọi là lễ Tiến Xuân. Còn lại một tượng mang thần và một thổ ngưu, đem đặt tại phủ thự Thừa Thiên, quan Kinh doãn cầm roi đánh con trâu đất ba lần để tỏ ý khuyên việc cày ruộng". Vua Minh Mạng ưng thuận và cho làm theo lời tâu ấy, sau lại truyền lệnh cho các địa phương phải làm nhất luật như thế. Tục lệ này còn được duy trì cho đến năm đầu Thanh Thái (1889) thì có sửa đổi đôi chút do trong nước có quốc tang.

     Ảnh: Người dân sử dụng trâu để cày bừa vụ Đông Xuân

Ngày nay, khi các lễ hội cũ dần đi vào dĩ vãng, cuộc sống có nhiều thay đổi, việc cày bừa bằng trâu bò nặng nhọc được thay thế bằng máy móc cơ khí hóa, tuy nhiên con trâu vẫn là loài vật vô cùng gần gũi trong đời sống hàng ngày của người Việt, trâu vẫn luôn hiện hữu, đồng hành, là đầu cơ nghiệp của nhiều nhà nông. Lễ hội đâm trâu ở Tây Nguyên được thay thế bằng hình thức phù hợp, văn minh hơn. Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn và nhiều nơi trên cả nước không tổ chức giết thịt trâu như các năm trước. Lễ Tịch điền dần được tái hiện đầu năm.v.v. Đó cũng chính là những ứng xử rất văn hóa, nhân văn đối với loài vật thân thiện này.


Nguồn bài viết: Tùng Lĩnh

Chưa có ý kiến nào, bạn hãy là người đầu tiên gửi ý kiến cho bài viết này.